Bản Mệnh ngũ hành khiến cùng một lá số được luận khác nhau
Hai người có thể cùng đứng trong một cách đẹp, cùng bộ sao sáng sủa, mà một người phát đạt còn một người chật vật cả đời. Đây không phải mâu thuẫn của khoa Tử Vi, mà là điểm cốt lõi mà sách Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học của Hà Lạc Dã Phu nhấn mạnh: một lá số phải đọc theo tương quan ngũ hành giữa bản Mệnh, cung và sao, chứ không đọc sao một cách tuyệt đối.
Bài này trình bày vì sao cùng một thế sao lại cho kết quả khác nhau, dựa đúng theo lập luận trong Áo Bí, có ghi số dòng nguồn. Phần luận mang tính tham khảo để hiểu nguyên lý, còn vị trí sao thì cố định trên lá số đã an.
Một cách đẹp chưa đủ để kết luận
Sách Áo Bí mở đầu chương luận cách bằng một nguyên tắc: "Mỗi cách có tính lý chủ trì khác nhau, nên các bộ sao trung tinh và tiểu tinh đi theo phù tá cũng khác nhau" (Áo Bí, dòng 16268). Cùng là một bộ sao Tả Hữu, đi với cách Tử Vi Phủ Vũ Tướng thì đắc lực hơn hẳn khi đi với cách Nhật Nguyệt (Áo Bí, 16271).
Quan trọng hơn, sách viết: "Một lá số quý cách nhất là lá số làm Vua làm Tổng thống, nhưng bất kể một cách nào trong bốn cách cũng có thể đạt được" (Áo Bí, 16273). Nghĩa là không có cách nào tự động sang, cũng không có cách nào hết đường. Kết quả tùy thuộc chính tinh của cách ấy có ở nơi miếu địa hay không, và các trung tiểu tinh đi theo có phò tá đắc lực hay không.
Vậy nếu hai lá số cùng một cách, cùng miếu vượng, cùng sao phụ trợ, thì khác nhau ở đâu? Khác ở tầng sâu nhất: bản Mệnh ngũ hành nạp âm của mỗi người.
Bản Mệnh quyết định sao có "ăn" cách hay không
Áo Bí lấy cách Tử Phủ làm thí dụ rõ nhất. Trong cách này, Tử Vi là dương đế tinh, Thiên Phủ là âm đế tinh, hai sao lớn nhất của môn Đẩu số (Áo Bí, 16292). Nhưng sách nhắc ngay: "Cần nhất là phải xem Mệnh ngồi với sao nào, Tài Quan ngồi với sao nào" (Áo Bí, 16296).
Sách quy định cụ thể:
- Mệnh ngồi với Tử Vi hay Thiên Phủ thì ngũ hành bản Mệnh phải là Thổ, theo dương Thổ ở với Tử Vi, âm Thổ ở với Thiên Phủ, mới hưởng được trọn vẹn cách Tử Phủ (Áo Bí, 16299).
- Mệnh thuộc Kim ngồi với Vũ Khúc là hợp, nhưng cách Tử Phủ đã kém độ tốt đi rồi (Áo Bí, 16303).
- Mệnh thuộc Thủy ngồi với Thiên Tướng là hợp, nhưng kém hẳn người Thổ Mệnh (Áo Bí, 16305).
Và đây là câu then chốt giải thích vì sao hai lá số giống nhau lại khác kết quả: nếu Thủy Mệnh mà không cư đồng cung với Thiên Tướng, "thì chỉ là cách mượn lấy hình bóng của Tử Phủ, ví như người chỉ có hư danh hay sự hiển đạt nhất thời, không thể bền vững được" (Áo Bí, 16306). Người này nhìn sơ thì lá số đẹp tốt, nhưng xét về ngũ hành lại bị khắc chế, nên Áo Bí gọi là "thoát khí chi đồ", nghĩa là người bị tiết khí (Áo Bí, 16308).
Như vậy hai người cùng cách Tử Phủ miếu vượng: người bản Mệnh Thổ hưởng trọn, người bản Mệnh không đồng hành chỉ mượn hình bóng và hiển đạt nhất thời. Cùng một thế sao, hai số phận khác nhau, lý do nằm ở bản Mệnh.
Cùng một sao, hợp Mệnh này nhưng khắc Mệnh kia
Nguyên tắc trên không riêng gì cách Tử Phủ. Áo Bí áp dụng cho mọi cách.
Với cách Nhật Nguyệt, sách viết: "Người có cách Nhật Nguyệt mà Mệnh Hỏa thì ưa tranh đấu, vì hợp với Thái Dương hỏa. Người Mệnh Thủy trầm tĩnh hơn, vì hợp với Thái Âm thủy" (Áo Bí, 16486). Cùng một lá số Nhật Nguyệt, người Mệnh Hỏa và người Mệnh Thủy biểu lộ tính cách và sở trường khác nhau, vì mỗi bản Mệnh cộng hưởng với một trong hai sao.
Đáng chú ý, Áo Bí bác bỏ lối luận máy móc "yêu kẻ sinh ngày, ghét kẻ sinh đêm". Sách viết cách Nhật Nguyệt "phải tùy theo vị trí miếu hãm của hai sao và ngũ hành của bản Mệnh hợp lại mà luận xét xấu tốt" (Áo Bí, 16475), chỉ nên so sánh ngày đêm khi Thái Dương ở cung hãm địa. Với cách Nhật Nguyệt đồng cung Sửu Mùi, sách nói thẳng: phải luận ngũ hành bản Mệnh hợp với sao nào, Nhật hay Nguyệt, mới hiểu tường tận được (Áo Bí, 16511).
Với cách Sát Phá Tham, sách cho thấy bản Mệnh đổi thì kết luận đổi. Một Phá Quân ở Thìn Tuất, nếu hợp được Kình Dương và người Kim Mệnh hay Thủy Mệnh, thì "không thể bảo là trai bất nhân Phá Quân Thìn Tuất được, vì Kình Dương hay Phá Quân chư tinh hợp với hành của bản Mệnh, nên thường là những người tay trắng làm nên sự nghiệp và rất cơ mưu tài trí" (Áo Bí, 16678). Cùng một Phá Quân Thìn Tuất, người hợp Mệnh thì thành kẻ lập nghiệp, người không hợp thì mang tiếng xấu của cách.
Miếu hãm và Triệt Tuần cũng làm hai số tách đôi
Ngoài bản Mệnh, Áo Bí còn chỉ ra hai yếu tố nữa khiến cùng một cách rẽ thành hai ngả: thế miếu hãm và sự có mặt của Tuần Triệt.
Sách viết một câu rất đối xứng: "Nếu miếu vượng ngộ Triệt Tuần lại không còn uy lực nữa, nếu lạc hãm gặp được Triệt Tuần lại phản vi kỳ" (Áo Bí, 16568). Nghĩa là cùng một bộ Triệt Tuần, đặt lên sao miếu vượng thì làm sao mất uy, nhưng đặt lên sao lạc hãm lại hóa hay. Hai lá số cùng một sao, một bên có Triệt một bên không, kết quả đảo ngược.
Sách còn nói thêm rằng các chính tinh lạc hãm gặp được Triệt Tuần tuy có tốt thật, song "cuộc đời vẫn phải lao tâm khổ tứ mới thành sự nghiệp được, không như người được chư cát miếu, là số tọa hưởng kỳ thành" (Áo Bí, 16570). Cùng đến đích thành công, nhưng một người an nhàn, một người vất vả. Đó cũng là lý do hai lá số gần giống nhau vẫn cho hai cuộc đời khác nhau về quá trình.
Tóm lại, Áo Bí cho thấy một lá số không đọc bằng cách dán nhãn cách tốt hay xấu, mà đọc bằng tương quan ngũ hành ba tầng: bản Mệnh, cung và sao, cộng thêm miếu hãm và Triệt Tuần. Đổi bất kỳ tầng nào, kết luận đổi theo. Đó chính là vì sao cùng một thế sao có thể luận khác nhau, và vì sao việc xác định đúng bản Mệnh ngũ hành là bước không thể bỏ qua.
Hiểu được ba tầng ngũ hành ấy, ta có thể trả lời những thắc mắc thường gặp nào tiếp theo?
Câu hỏi thường gặp
Cùng một cách đẹp thì có chắc cùng tốt không? Không. Áo Bí nói bất kể cách nào cũng có thể làm nên, nhưng kết quả tùy chính tinh có miếu địa hay không và trung tiểu tinh phò tá có đắc lực hay không (Áo Bí, 16273). Quan trọng nhất là bản Mệnh ngũ hành có đồng hành với sao của cách hay không.
Vì sao bản Mệnh lại quyết định nhiều như vậy? Vì Áo Bí coi ngũ hành sinh khắc là chìa khóa tối trọng, luận sao là luận tương quan giữa Mệnh, cung, sao và Cục. Sao chỉ "ăn" cách khi đồng hành với bản Mệnh; nếu không, người ta chỉ mượn hình bóng của cách và hiển đạt nhất thời (Áo Bí, 16306).
Hai lá số khác nhau một sao Triệt thì khác nhau bao nhiêu? Có thể đảo ngược kết luận. Sao miếu vượng gặp Triệt Tuần mất uy lực, còn sao lạc hãm gặp Triệt Tuần lại phản vi kỳ, hóa hay (Áo Bí, 16568). Nên một bộ Tuần Triệt đủ làm hai số tách thành hai ngả.
Nguồn: Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học, Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử, Sài Gòn 1972, Chương 8 Luận các cách của Đẩu số [dòng 16268, 16292, 16296, 16299, 16306, 16486, 16568, 16678]. Lưu ý: nội dung tử vi mang tính tham khảo để hiểu mình và chủ động hơn, không thay thế quyết định y tế, tài chính hay pháp lý.
Đọc thêm cách đọc lá số theo ngũ hành tại phương pháp luận, và xác định bản Mệnh của bạn tại lập lá số.
Tự tay lập lá số Tử Vi của bạn, hoàn toàn miễn phí
Lập lá số miễn phí, xem ngay luận giải cơ bản. Cần đi sâu hơn thì mở luận chi tiết bằng xu.
Lập lá số miễn phí