Trang chủBài viết › Sao Thái Âm tại cung Phúc Đức: nguyệt tinh định phúc trạch và thọ yểu

Sao Thái Âm tại cung Phúc Đức: nguyệt tinh định phúc trạch và thọ yểu

Thái Âm tại cung Phúc Đức nghĩa là biểu tượng của mặt trăng, sao Bắc Đẩu thuộc Âm Thủy, an tại cung chủ về phúc phần, tuổi thọ và họ hàng của một người. Vì Thái Âm là phú tinh, chủ sự phú túc và may mắn khi sáng, chủ sự phát tán suy bại khi tối, nên ở cung Phúc Đức, sao này định rất rõ việc hưởng phúc hay bạc phúc, sống lâu hay giảm thọ. Sách Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của cụ Vân Đằng Thái Thứ Lang luận cung Phúc Đức có Thái Âm theo vị trí đơn thủ miếu hãm, theo tổ hợp với Thái Dương, Thiên Đồng, Thiên Cơ, và có luận cả phần âm phần.

Xem điều này ứng vào lá số CỦA BẠN như thế nào?Lập lá số của bạn →

Bài này luận Thái Âm tại cung Phúc Đức theo đúng nguồn, phần ý nghĩa mang tính tham khảo, còn vị trí sao thì cố định trên lá số đã an.

Thái Âm đơn thủ định phúc trạch và tuổi thọ

Thế sáng tối của nguyệt tinh chia phúc phần thành hai hướng đối lập. Thái Âm miếu địa tại Dậu, Tuất, Hợi và hãm địa tại Mão, Thìn, Tỵ. Theo sách gốc:

  • Đơn thủ tại Dậu, Tuất, Hợi: được hưởng phúc trọn đời, sung sướng, sống lâu; trong họ có nhiều người quý hiển và giàu sang.
  • Đơn thủ tại Mão, Thìn, Tỵ: bạc phúc nên tuổi thọ bị chiết giảm, suốt đời vui ít buồn nhiều, lao tâm khổ tứ; nên lập nghiệp ở nơi thật xa quê hương, sớm xa cách gia đình mới mong yên thân; họ hàng ly tán, nhiều người cùng khổ cô đơn, đàn bà con gái trong họ rất vất vả về chồng con.

Ở cung Phúc Đức, Thái Âm sáng nghiêng hẳn về hưởng phúc và trường thọ, còn Thái Âm tối lại gắn với chiết giảm tuổi thọ và họ hàng ly tán.

Thái Âm tại cung Phúc Đức theo từng tổ hợp sao

Tổ hợpVị tríKết quả theo sách
Đồng, Nguyệt đồng cungĐược hưởng phúc, sống lâu; nên lập nghiệp xa quê; họ hàng quý hiển, có danh giá, uy quyền tế thế
Đồng, Nguyệt đồng cungNgọGiảm thọ; phải ly tổ bôn ba mới yên thân; họ hàng càng ngày càng sa sút phiêu bạt
Nhật, Nguyệt đồng cungSửu, MùiKhông hưởng phúc dồi dào, hay gặp trở ngại; nên lập nghiệp xa quê; họ hàng khá giả nhưng ly tán
Cơ, Nguyệt đồng cungThânĐược hưởng phúc, sống lâu; trong họ có người giàu sang, đàn bà con gái thường khá giả hơn đàn ông con trai
Cơ, Nguyệt đồng cungDầnKhông hưởng phúc dồi dào, suốt đời chẳng được xứng ý; họ hàng bình thường, đàn bà con gái hay trắc trở về chồng con

Cách Nhật Nguyệt đồng cung còn được sách luận theo giờ sinh: sinh ban ngày thì trong họ đàn ông con trai hiển đạt, còn đàn bà con gái vất vả về chồng con hay yểu tử; sinh ban đêm thì đảo lại, đàn bà con gái giàu có sung sướng còn đàn ông con trai cùng khổ phiêu bạt.

Ảnh hưởng của phụ tinh tới phúc trạch

Sách gốc còn nêu tác động của một số sao bất lợi lên cung Phúc Đức có Thái Âm:

  • Nguyệt sáng sủa gặp Riêu, Đà, Kỵ: giảm thọ, mắt kém, khó tránh tai họa, suốt đời bất đắc chí, họ hàng ly tán hay tranh chấp lẫn nhau.
  • Nguyệt mờ ám gặp Riêu, Đà, Kỵ: giảm thọ, mắt kém rất đáng lo ngại, tai họa nhiều, họ hàng càng ngày càng ly tán suy bại.
  • Nhật, Nguyệt, Kỵ đồng cung tại Sửu, Mùi: được hưởng phúc sống lâu, suốt đời gặp may mắn, càng ở xa quê càng khá giả, trong họ nhiều người quý hiển nhưng thường bất hòa.

Đáng chú ý là cùng bộ Riêu, Đà, Kỵ nhưng Nguyệt sáng vẫn nhẹ hơn Nguyệt mờ, cho thấy thế sáng tối luôn là nền để đọc phụ tinh.

Phần âm phần

Ở cung Phúc Đức, sách còn luận âm phần cho Thái Âm: sao này ứng với mộ mẹ, hoặc mộ bà nội, hoặc mộ cụ nội bà, tùy theo người trên nào đã khuất; thế đất hơi cao, chạy dài và uốn cong như hình bán nguyệt. Đây là nét riêng của cung Phúc Đức, gắn với chữ mẹ vốn là bản chất của nguyệt tinh.

Ba lớp góc nhìn khi luận Thái Âm tại Phúc Đức

Tử Vi Tân Biên luận mỗi ô sao qua ba lớp để tránh phiến diện, mỗi trường phái chiếm không quá sáu phần mười. Lớp cổ điển theo phái Tam Hợp bám thế miếu hãm, các cặp Nhật, Đồng, Cơ và phần âm phần như trên. Lớp hiện đại nhìn cung Phúc Đức trong cục diện cả lá số, xem Thái Âm sáng hay tối và có bị Riêu, Đà, Kỵ làm giảm thọ hay không. Lớp kết luận Tân Biên tổng hợp hai góc trên, tránh thấy Thái Âm sáng liền cho là trọn phúc, hoặc thấy hãm liền cho là vô phúc.

Câu hỏi thường gặp

Thái Âm ở cung Phúc Đức khi nào hưởng phúc sống lâu? Khi đơn thủ miếu tại Dậu, Tuất, Hợi, hoặc Đồng Nguyệt tại Tý, hoặc Cơ Nguyệt tại Thân, sách ghi được hưởng phúc và sống lâu,.

Vì sao Thái Âm hãm ở Phúc Đức lại giảm thọ? Vì Thái Âm hãm địa chủ sự phát tán suy bại; đơn thủ tại Mão, Thìn, Tỵ bị xem là bạc phúc nên tuổi thọ chiết giảm, họ hàng ly tán,.

Thái Âm ở Phúc Đức luận âm phần thế nào? Sách ghi ứng với mộ mẹ, mộ bà nội hoặc mộ cụ nội bà, thế đất hơi cao, chạy dài, uốn cong như hình bán nguyệt.

Lá số mỗi người một khác, thế sáng tối và tổ hợp sao quanh Thái Âm quyết định cách đọc cụ thể.

Nguồn: Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, Vân Đằng Thái Thứ Lang, NXB Sài Gòn 1956, mục sao Thái Âm và phần luận cung Phúc Đức, . Lưu ý: nội dung tử vi mang tính tham khảo để hiểu mình và chủ động hơn, không thay thế quyết định y tế, tài chính hay pháp lý.

Đọc thêm: bản chất Sao Thái Âm, tổng quan cung Phúc Đức, phương pháp luận ba lớp góc nhìn, và lập lá số để xem Thái Âm nằm ở đâu trong lá số của bạn.

Xem điều này ứng vào lá số CỦA BẠN như thế nào?

Lập lá số miễn phí, xem ngay luận giải cơ bản. Cần đi sâu hơn thì mở luận chi tiết bằng xu.

Lập lá số của bạn

Câu hỏi thường gặp

Thái Âm ở cung Phúc Đức khi nào hưởng phúc sống lâu?
Khi đơn thủ miếu tại Dậu, Tuất, Hợi, hoặc Đồng Nguyệt tại Tý, hoặc Cơ Nguyệt tại Thân, sách ghi được hưởng phúc và sống lâu [tr.133, tr.134].
Vì sao Thái Âm hãm ở Phúc Đức lại giảm thọ?
Vì Thái Âm hãm địa chủ sự phát tán suy bại; đơn thủ tại Mão, Thìn, Tỵ bị xem là bạc phúc nên tuổi thọ chiết giảm, họ hàng ly tán [tr.36, tr.133].
Thái Âm ở Phúc Đức luận âm phần thế nào?
Sách ghi ứng với mộ mẹ, mộ bà nội hoặc mộ cụ nội bà, thế đất hơi cao, chạy dài, uốn cong như hình bán nguyệt [tr.142].
Bài liên quan