Vì sao luận sao trong tử vi phải soi vào bản Mệnh ngũ hành
Trong khoa Tử Vi, biết một sao tên gì và đóng ở cung nào mới là một nửa câu chuyện. Nửa còn lại là sao ấy hợp hay khắc với bản Mệnh ngũ hành của người xem. Sách Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học của Hà Lạc Dã Phu coi đây là tầng luận quyết định, và đặt ngũ hành sinh khắc làm chìa khóa để mở vào toàn bộ môn học.
Bài này trình bày nguyên tắc luận sao theo bản Mệnh, gồm quan hệ giữa Mệnh, Cục và sao, quy tắc sinh nhập khắc xuất, và câu cốt lõi "Mệnh vi mẫu, Cục vi tử", trích đúng theo Áo Bí có ghi số dòng. Nội dung mang tính tham khảo để hiểu nguyên lý.
Vì sao ngũ hành là chìa khóa
Áo Bí viết thẳng: "Ngũ hành sinh khắc là chìa khóa tối trọng, để mở đường cho tất cả, nếu không tạm hiểu được ngũ hành thì không thể nào đi sâu vào các môn học vi diệu này được" (Áo Bí, dòng 5577). Câu này áp dụng chung cho thiên văn, địa lý, tử vi, tướng số và y học, vì tất cả cùng chịu chung một nguyên lý ngũ hành.
Trong Tử Vi, điều đó có nghĩa là luận một sao không phải đọc tính chất cố định của nó, mà đọc tương quan sinh khắc giữa bốn yếu tố: bản Mệnh, cung an sao, bản thân sao, và Cục của lá số. Mỗi sao mang một hành, mỗi cung mang một hành, bản Mệnh nạp âm mang một hành, và Cục cũng mang một hành. Đặt chúng cạnh nhau rồi xét sinh khắc, mới ra được sao ấy lợi hay hại cho người này.
Mệnh và Cục: nửa đời trước và nửa đời sau
Áo Bí phân định rõ vai trò của Mệnh và Cục theo thời gian. Sách dẫn quy tắc cổ: "Tam thập niên tiền quan Mệnh, tam thập niên hậu khán Cục" (Áo Bí, 6140), nghĩa là ba mươi năm đầu đời xem cung Mệnh, ba mươi năm sau xem Cục.
Năm Cục được sách định lượng bằng số: Thủy nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục, Hỏa lục cục (Áo Bí, 6135). Điều quan trọng, theo Áo Bí, là "Mệnh và Cục nên tương đồng một hành" (Áo Bí, 6141). Nếu chính tinh cư cung Mệnh không đồng hành với bản Mệnh, thì nên có một chính tinh khác đồng một hành với Cục, như thế sẽ được hưởng nửa đời sau, vì nửa đời sau ăn theo Cục (Áo Bí, 6142).
Sách cho một thí dụ cụ thể: Cục là Mộc tam cục, Mệnh Tài Quan cư ba cung tam hợp Dần Ngọ Tuất, cung Tài ở Tuất có sao Thiên Lương. Vì Cục là Mộc mà Thiên Lương cũng là Mộc, nên cung Tài được sự âm hợp và tốt duyên hơn hai cung kia (Áo Bí, 6144). Đây là cách đọc một cung qua sự cộng hưởng giữa sao trong cung và hành của Cục.
Quy tắc sinh nhập, khắc xuất
Khi bản Mệnh và Cục không cùng một hành, Áo Bí đưa ra một quy tắc mà sách gọi là "bất di bất dịch của lý học": "Sinh phải sinh nhập, và Khắc phải khắc xuất, luôn luôn lấy Mệnh làm chủ, để luận sinh nhập và khắc xuất" (Áo Bí, 6150).
Lấy Mệnh làm chủ nghĩa là luôn đứng từ phía bản Mệnh để xét chiều của sinh và khắc:
- Sinh nhập là hành khác sinh vào Mệnh, tốt. Thí dụ Mệnh Hỏa, Cục Mộc là tốt, vì Mộc sinh Hỏa, tức Cục nhập vào Mệnh (Áo Bí, 6155).
- Khắc xuất là Mệnh khắc ra hành khác, không hại Mệnh. Thí dụ Mệnh Hỏa, Cục Kim thì kém hơn, nhưng không bị khắc chế gì cho Mệnh, vì Hỏa khắc Kim là khắc xuất (Áo Bí, 6156).
- Sinh xuất và khắc nhập thì xấu. Thí dụ Mệnh Mộc, Cục Kim là Mộc bị Kim khắc, tức Cục khắc Mệnh, là khắc nhập (Áo Bí, 6158).
Bốn chiều này, sinh nhập, sinh xuất, khắc nhập, khắc xuất, là khung để luận mọi tương quan giữa bản Mệnh với Cục, với sao và với cung. Cùng một sao Kim, đặt vào Mệnh Thủy thì là sinh nhập có lợi, đặt vào Mệnh Mộc thì là khắc nhập có hại. Đó là vì sao một sao không có nghĩa cố định cho mọi người.
Mệnh vi mẫu, Cục vi tử
Câu gói gọn toàn bộ nguyên tắc trên là "Mệnh vi mẫu, Cục vi tử" (Áo Bí, 6151), nghĩa là Mệnh là mẹ, Cục là con. Người mẹ nuôi con, nên Mệnh sinh cho Cục thì hợp lẽ tự nhiên, còn con khắc lại mẹ thì nghịch. Hình ảnh mẹ con giúp người học nhớ luôn đặt Mệnh ở vị trí chủ thể khi xét chiều sinh khắc, thay vì lẫn lộn hai phía.
Nguyên tắc Mệnh làm chủ này còn được Áo Bí dùng để luận sao trong cách. Khi bàn cách Tử Phủ, sách nhắc bộ Tử Vi, Thiên Phủ, Tả Hữu đều thuộc Thổ, nên Mệnh ngồi với Tử Vi hay Thiên Phủ phải là Thổ mới hưởng trọn vẹn cách ấy (Áo Bí, 16294). Nếu bản Mệnh không đồng hành, người ta chỉ mượn hình bóng của cách, hiển đạt nhất thời. Đây chính là quy tắc sinh nhập khắc xuất đem áp vào từng sao cụ thể.
Cũng vì lấy ngũ hành làm chuẩn mà Áo Bí phản biện một số lối luận máy móc. Sách không đồng ý với quan niệm cứ sinh năm Dương mà Mệnh cư cung Âm là xấu, vì một lá số phải liên hợp cả năm tháng ngày giờ sinh mới ra được vị trí sao, và còn phải xét cung ấy miếu vượng hay khắc hãm (Áo Bí, 6120). Nếu chỉ căn cứ Âm Dương vị mà phán xấu thì, theo sách, "Tử Vi đã tự mâu thuẫn vậy" (Áo Bí, 6128). Tinh thần xuyên suốt là mọi kết luận phải quy về ngũ hành sinh khắc, không dừng ở quy tắc bề mặt.
Áp dụng khi đọc một lá số
Từ Áo Bí, có thể rút ra trình tự luận sao theo bản Mệnh. Trước hết xác định bản Mệnh ngũ hành nạp âm và Cục của lá số. Sau đó với mỗi sao chính tinh quan trọng, xét hành của sao so với bản Mệnh theo bốn chiều sinh nhập, sinh xuất, khắc nhập, khắc xuất. Tiếp đến xét hành của Cục so với Mệnh để biết nửa đời sau được nâng đỡ hay không. Cuối cùng mới cộng thêm thế miếu hãm và các sao phụ tá.
Cách đọc này giải thích vì sao hai người cùng một sao đẹp lại hưởng khác nhau, và vì sao Áo Bí coi bản Mệnh là gốc của mọi luận đoán. Hiểu ngũ hành sinh khắc là điều kiện đầu tiên để bước vào, đúng như câu mở của sách.
Vậy khi đem nguyên lý này ra đọc một lá số, người học hay hỏi những gì?
Câu hỏi thường gặp
Sinh nhập và khắc xuất là gì? Là hai chiều tốt khi luận Mệnh với Cục hoặc sao. Sinh nhập là hành khác sinh vào Mệnh, như Mệnh Hỏa gặp Cục Mộc. Khắc xuất là Mệnh khắc ra hành khác mà không hại Mệnh, như Mệnh Hỏa gặp Cục Kim. Ngược lại sinh xuất và khắc nhập thì xấu (Áo Bí, 6150).
Mệnh vi mẫu Cục vi tử nghĩa là sao? Nghĩa là Mệnh là mẹ, Cục là con, luôn lấy Mệnh làm chủ thể khi xét sinh khắc (Áo Bí, 6151). Mệnh sinh cho Cục thì thuận, Cục khắc lại Mệnh thì nghịch. Áo Bí dùng hình ảnh này để người học không lẫn chiều sinh khắc.
Vì sao phải xem cả Mệnh và Cục? Vì Áo Bí dẫn quy tắc tam thập niên tiền quan Mệnh, tam thập niên hậu khán Cục (Áo Bí, 6140). Nửa đời trước xem cung Mệnh, nửa đời sau ăn theo Cục, nên một lá số đủ tốt cần Mệnh và Cục tương đồng một hành hoặc có chính tinh đồng hành với Cục.
Nguồn: Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học, Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử, Sài Gòn 1972, phần Định lý ngũ cục và Liên hệ ngũ hành Mệnh Cục [dòng 5577, 6120, 6135, 6140, 6150, 6151] và Chương 8 [dòng 16294]. Lưu ý: nội dung tử vi mang tính tham khảo để hiểu mình và chủ động hơn, không thay thế quyết định y tế, tài chính hay pháp lý.
Đọc thêm cách vận dụng ngũ hành khi luận tại phương pháp luận, và tra bản Mệnh cùng Cục của bạn tại lập lá số.
Tự tay lập lá số Tử Vi của bạn, hoàn toàn miễn phí
Lập lá số miễn phí, xem ngay luận giải cơ bản. Cần đi sâu hơn thì mở luận chi tiết bằng xu.
Lập lá số miễn phí